1. Vật liệu của tế bào cuvette dòng chảy mà chúng tôi cung cấp:
Vật liệu: Kính thạch anh ES, kính thạch anh IR và kính quang học
chúng tôi cung cấp các cuvette kính quang học, cuvette thạch anh, cuvette thạch anh IR cho máy đo huỳnh quang, máy quang phổ kế và máy so màu.
Ưu điểm của cuvet thạch anh dạng dòng:
- 1. Chịu nhiệt độ cao
- 2. Vật liệu độ bền cao
- 3. Chống ăn mòn.
- 4. Xử lý: Công nghệ Hellma
Cuvet cũng được gọi là ô hấp thụ, ô mẫu. Dùng để đựng dung dịch chuẩn, dung dịch mẫu. Tương thích với các thiết bị quang phổ: như máy quang kế, máy phân tích huyết thanh, máy phân tích kích thước hạt, v.v.
Kích thước và thiết kế: Chấp nhận tùy chỉnh theo đường dẫn khác nhau hoặc gửi bản vẽ của bạn.
Ứng dụng của ô quang thạch anh:
Cuvet thạch anh phù hợp với các thiết bị phân tích phổ tử ngoại - khả kiến và các thiết bị quang phổ nhập khẩu, đồng thời có độ tương thích hóa học tốt.
Hướng dẫn sử dụng:
- 1. Cả đáy và cạnh của cuvet đều phủ thủy tinh mờ, hai cạnh còn lại làm bằng thủy tinh quang học trong suốt, được chế tạo từ bột thủy tinh nóng chảy, nung ở nhiệt độ cao và dán keo. Vì vậy, vui lòng lưu ý các điểm sau khi sử dụng:
- 2. Khi cầm ô quang, vui lòng dùng ngón tay chạm vào phần thủy tinh mờ ở hai bên để tránh tiếp xúc với bề mặt quang học. Vui lòng chú ý cầm nhẹ đặt nhẹ, tránh ảnh hưởng của lực tác động bên ngoài lên ô quang, vì điều này có thể gây hư hại do ứng suất.
- 3. Khi sử dụng cuvet, hai bề mặt trong suốt phải hoàn toàn song song và được đặt thẳng đứng trong giá đỡ cuvet để đảm bảo ánh sáng tới vuông góc với bề mặt trong suốt, điều này có thể tránh thất thoát ánh sáng phản xạ ngược và đảm bảo giữ nguyên đường đi của tia sáng.
- 4. Bề mặt quang học không được tiếp xúc với vật cứng hoặc bụi bẩn, khi chứa dung dịch, độ cao dung dịch nên bằng 2/3 chiều cao của cuvet. Nếu còn chất lỏng dư trên bề mặt quang học, vui lòng dùng giấy lọc thấm sạch, sau đó lau bằng giấy lau kính hoặc vải lụa.
- 5. Không được lưu trữ dung dịch thủy tinh ăn mòn trong cuvet trong thời gian dài. Cuvet nên được tráng ngay bằng nước sau khi sử dụng. Nếu cần, ngâm bằng dung dịch axit clohydric 1:1, sau đó tráng lại bằng nước. Không được đặt cuvet lên ngọn lửa hoặc bếp điện để đun nóng hoặc cho vào tủ sấy để nướng.
Nguyên tắc lựa chọn cuvet
Khi chọn cuvet, ngoài việc xem xét vật liệu, cần chú ý thêm các chỉ tiêu kỹ thuật quan trọng khác.
Lựa chọn vật liệu: Các vật liệu phổ biến dùng cho cuvet bao gồm thủy tinh, thạch anh và nhựa. Cuvet thủy tinh có giá thành tương đối thấp và có độ truyền sáng tốt trong vùng ánh sáng nhìn thấy, do đó phù hợp với các phép đo trong vùng ánh sáng khả kiến. Cuvet thạch anh có độ truyền sáng cao cả ở vùng tử ngoại và khả kiến, thích hợp cho quang phổ kế tử ngoại - khả kiến, nhưng chúng có giá thành tương đối cao. Cuvet nhựa có độ truyền sáng tương đối kém hơn, nhưng lại có ưu điểm là chịu được ăn mòn hóa chất và chi phí thấp. Chúng thường được sử dụng trong các thí nghiệm yêu cầu độ chính xác không cao hoặc trong các tình huống dùng một lần. Khi lựa chọn, cần xác định vật liệu phù hợp dựa trên yêu cầu cụ thể của thí nghiệm và dải bước sóng sẽ sử dụng.
△ Mối quan hệ giữa bước sóng và vật liệu
Trong vùng ánh sáng khả kiến, các cuvet thủy tinh được sử dụng rộng rãi do ưu thế về giá cả và tính kinh tế. Tuy nhiên, trong vùng tử ngoại, các cuvet thạch anh phù hợp hơn cho các thí nghiệm ánh sáng tử ngoại. Chúng được ưa chuộng vì không hấp thụ ánh sáng tử ngoại và thường thay thế cuvet thủy tinh để đảm bảo độ chính xác của dữ liệu thí nghiệm.
△ Các yếu tố cần xem xét đối với UV-VISS
Từ góc nhìn của người dùng, độ ổn định và độ tin cậy của UV-VISS là những mối quan tâm hàng đầu. Độ ổn định thể hiện ở mức trôi nhỏ và độ lặp lại tốt, trong khi độ tin cậy liên quan mật thiết đến độ chính xác quang học (PA) và tỷ lệ hỏng hóc thấp.
△ Quy trình hiệu chuẩn độ truyền sáng
Theo quy định kiểm định quốc gia hiện hành, độ chênh lệch độ truyền sáng giữa các cuvet ghép cặp cần được kiểm soát trong phạm vi ±0,5%. Trong vùng ánh sáng khả kiến, cả cuvet thủy tinh và cuvet thạch anh đều có thể sử dụng được, do đó việc lựa chọn ghép cặp có thể thực hiện bằng cách so sánh trực tiếp độ truyền sáng của từng cuvet. Cụ thể, có thể dùng một bộ bốn cuvet để đo ở bước sóng 500 nm, với không khí và nước tinh khiết làm môi trường. Điều chỉnh độ truyền sáng của một cuvet trong mỗi nhóm về 100%, sau đó đo độ truyền sáng của cuvet còn lại. Nếu độ chênh lệch độ truyền sáng không vượt quá 5% thì có thể xác định rằng các cuvet đối chiếu này có thể sử dụng thành cặp.
Thông số kỹ thuật của Cuvette:
Vật liệu |
Mã |
Độ truyền quang của tế bào trống |
Độ lệch trong độ phù hợp |
Kính quang học |
G |
tại 350nm khoảng 82% |
tại 350nm tối đa 0.5% |
Thạch anh ES |
Q |
tại 200nm khoảng 80% |
tại 200nm tối đa 0,5% |
Thạch anh IR |
Tôi |
tại 2730nm khoảng 88% |
tại 2730nm tối đa 0,5% |
